Tường giải Thập Thần phần 11 – chi tiết Thiên Ấn – Chính Ấn

Thiên Ấn

Đại biểu vật: Là Kế mẫu, cùng với trưởng bối hoặc mẫu thân ta quan hệ không mật thiết, là loại thực vật có thể giúp ta ăn trưởng thành nhưng ta cũng không thích thực vật này (giống như vị thuốc, có hàm lượng dinh dưỡng cao, nhưng thực vật không thích hợp cho thân thể), là nhà cửa, giáo sư, tóc, da, tứ chi. Nghề nghiệp không chính thống như y sinh, nghệ thuật, luật sư, tôn giáo, nghề tự do, nghề phục vụ.


Tính cách: Dù là ngẩn ngơ nhưng không đến nỗi quá ngẫn ngơ, trong thỏa mãn vẫn mang một chút hi vọng xa vời, trong bế tắt vẫn mang trạng thái biểu đạt này, trong đạm bạc muốn một chút danh. Cô độc, không muốn bị người xâm phạm cũng không muốn xâm phạm ai, không muốn quan tâm người cũng không muốn bị người quan tâm, tuy không phản bác ý kiến người khác nhưng ý cũng không muốn tiếp nạp, có tâm tôn giáo nhưng thường sinh ít mơ mộng hão huyền, xem ra có tu dưỡng nhưng không thông tình người.
Lại do Thiên Ấn khắc Thực thần, cho nên mà người có Thiên Ấn, tâm không giàu thông cảm, không có nhàn nhã tự nhiên, không thích bàn luận.
Suy xét minh mẫn, thông minh lanh lợi, lão luyện, không giỏi ngôn từ, nhiều chủ ý và phương pháp, phản ứng nhanh, có đủ giỏi thành thạo một nghề, bất mãn hiện trạng nhưng lại không muốn biểu đạt ý kiến. Đa tài đa nghệ, thích hợp nhành nghề làm việc ít có sự chú ý, trái lại mà dễ có thành tựu.
Tài năng Thiên Ấn khá thiên trọng về lập kế hoạch, và có tính sáng tạo độc đáo hoặc phương diện thiết kế. Chính Ấn trời sinh tính điềm tĩnh thích đạm bạc, Thiên Ấn trời sinh tính cô độc không thích chỗ đông người. Phàm cách cục mang Thiên Ấn, chuyên tinh hoa học nghệ thuật, dẫu có học thức không nhiều, cũng dựa vào năng lực và trí tuệ, lực lĩnh ngộ rất đặc biệt, chỗ việc học chắc chắn có sự vượt trội. Mệnh người mang Thiên Ấn, đối với độ mẫn cảm sự việc khá cao, cho nên theo nghề như điều tra, trinh thám, tình báo công việc khá sở trường, vì cơ trí đặc biệt mạnh mẽ, gặp thời ứng biến kẻ khác phải khâm phục. Thiên Ấn cách vốn có đủ tính sáng tạo độc đáo, ưu tú tài hoa, nhưng thường bản thân đánh giá quá cao, cùng với người khác ở chung thường là không vừa ý, nhưng nếu như tỉnh lại biết khuyết điểm này, phát huy chỗ trời đặc biệt, tài năng sẽ trào dâng, cũng có khả năng đường đi trong cuộc sống đại thành công, lập nên đại nghiệp.
Thiên Ấn còn có những đặc trưng dưới đây:
+ Một, thích hướng phát triển thiên nghiệp ( như tôn giáo, huyền thuật, linh học, kỹ nghệ đặc thù ), cũng dễ dàng nhận được thành tựu;
+ Hai, thường có hiện tượng thị phi, mà khẩu thuyết khó tranh luận;
+ Ba, bản thân thường có việc gánh vác không ngờ hoặc làm ra, có hiện tượng nhận, mà không được không làm, thân không phải là mình;
+ Bốn, có nhiều việc phiền não, khó mà ứng phó.

Thiên Ấn là kị:
+ Thực thần cách mang Thiên Ấn, dễ gặp tai họa, tính cách cũng sẽ trở nên tàn khốc vô tình.
+ Ngày giờ quá nhiều Thiên Ấn, cần chú ý lúc về già dẽ rơi vào cô độc tịch mịch.
+ Nữ mệnh nếu như Thiên Ấn khá trọng, sẽ còn cùng con cái là vô duyên, nói nghiêm trọng là có hình khắc, bởi vì nữ mệnh lấy Thực Thương là chức năng sinh đẻ và biểu thị Tử tức ( con cái).
+ Có tinh thần dâng hiến, nhưng lại không phải cam tâm tình nguyện, hơi có chủ kiến lại không theo dòng nước lớn, cố chấp, có mang nặng nhẫn nhục, cần khẩn trong công việc, nhưng lại có lới nói ai oán.
+ Thiên Ấn vượng là không có tâm thông cảm.
+ Thân nhược lấy Kiêu là dụng, chủ thông minh linh lợi kiên cường, có nhiều mưu mô đồng thời lại có điểm hà khắc sắc bén.
+ Lúc thân vượng Thực vượng, diễn giảng tốt, hát ca, thích ăn uống, nhiều đức bé béo phì, nhưng lúc này rất sợ Kiêu đoạt Thực.
+ Chính Thiên Ấn đều thấu, đa tài đa nghệ, bởi vì theo góc độ sinh nhật chủ là khác nhau, nhiều cơ hội trên việc luyển chọn nghề nghiệp.
+ Thiên Ấn không có chế, duyên bạc với con cái hoặc có họa nhỏ bệnh hại, có Thiên Tài có thể giải.
+ Tứ trụ có Thiên Ấn, lại có Quan Sát hỗn tạp, là mệnh nhiều thành nhiều bại. Lúc Ấn vượng hóa Sát là nhiều thành, lúc Ấn suy thân nhược là nhiều bại.
+ Thiên Ấn tọa Tỉ Kiếp, cả đời lao khổ. Bởi vì Tỉ Kiếp hóa Ấn, Ấn sẽ không sinh nhật chủ, nhật chủ nhược mà không có người trợ giúp, cho nên cả đời lao khổ.
+ Thiên Ấn tọa trường sinh, vì Thiên Ấn vượng, cùng với mẹ đẻ là vô duyên.
+ Thiên Ấn tọa mộ, vì bị cưỡng chế, việc làm có đầu mà không có đuôi. Can chi đều là Thiên Ấn thân lại vượng, như lại đi gặp tuế vận là kị trợ giúp nhật can, dễ tổn tài, thất nghiệp, hoặc có họa bệnh tật.
+ Trụ năm có Kiêu là kị, không có gia giáo; Thiên Ấn ở chi ngày, nam không được vợ hiền, nữ không được chồng giỏi; Thiên Ấn ở trụ giờ, đối với con cái là bất lợi, hoặc con cái cùng cha mẹ bất hòa. Trụ giờ là nhà cửa của con cái, trong nhà có một bà mẹ hung như cọp, con cái sẽ bị uy hiếp.
+ Nữ mệnh Thiên Ấn nhiều là kị, có tượng sinh non, Kiêu Ấn là kị đoạt Thực, đối với con cái là bất lợi.
+ Thiên Ấn trọng là kị, đoạt Thực thì phúc bạc, Thực là chén cơm.
+ Kiêu thần thái vượng bất lợi cho con, có con cũng khó nuôi dưỡng, tách khỏi có thể giải tai.
+ Thân nhược chủ yếu xem nhật chủ và Thực Thương, mức độ cân bằng Tài Quan và Kiêu Ấn. Thân nhược nếu như gánh không nỗi Thực thần Thương quan, lại không được Kiêu Ấn sinh, như vậy Thực Thương, Tài Quan, Kiêu Ấn đều là kị thần số một, thể hiện là thân thể suy nhược nhiều bệnh, công việc không thuận lợi, phá tài, quan tai, hôn nhân không thuận. Nếu như có thể gánh nỗi một bộ phận Tài Quan, Thực Thương, Kiêu Ấn, như vậy là thể hiện gian khổ, vất vả, nhiều áp lực, nhất định có quyền lực và thực lực kinh tế, nói chung là thể hiện nỗ lực nhiều mà nhận được ít. Nếu như có thể gánh nỗi một bộ phận lớn, thì thể hiện là có thể thăng quan phát tài, chẳng qua là chí có chút trở lực áp lực.
+ Thân vượng chủ yếu xem Ấn Tỉ có hay không có lưu thông, Kiêu Ấn vượng nhật chủ có hay không có thể được sinh, Tỉ Kiếp vượng là có hay không có Thực Thương tiết. Kiêu Ấn vượng nhật chủ có hay không có được sinh, có được sinh thì sẽ thể hiện thất nghiệp, bệnh tai, phá tài, lười nhác, tâm tính do dự thiếu quyết đoán, Tỉ Kiếp vượng mà là kị, nếu như không phát động hoặc có Thực Thương tiết thì sẽ thể hiện bị khích thích mù quáng, tranh cường háo thắng, có thông tin xấu là phá tài khắc vợ .
+ Bát tự không có Ấn tinh, nói rõ là trong mắt không có tồn tại sách học, lúc đi học không thích ghi chép mà miễn cưỡng quay lưng lại, cuộc thi tạm thời nước đến chân mới nhảy. Nếu có Thực Thương là tính trọng thực dụng, trừ phi đại vận đến Ấn vận, nếu không, đa số là không chịu học.
+ Bát tự không có Ấn tinh, sinh bệnh không thích dùng thuốc.
+ Ấn vượng là lúc bệnh, trưởng bối trợ lực rất ít, nam nữ ở nhà ngu si không đảm nhận được, cùng với trưởng bối là duyên bạc. Là vì cha mẹ quản thúc nhiều, nữ mệnh sau hôn nhân, quan hệ cùng với cha mẹ chồng không hòa hợp, khó ăn ở, nhiều thị phi, bề mặt không hòa hợp công việc, không chịu đi phụng dưỡng cha mẹ chồng.

Lưu niên:
+ Lưu niên là Ấn Kiêu, là thể hiện: đa số là có liên quan đến mẫu thân, lão sư, trưởng bối, học tập. Hóa Sát sinh thân thì là có liên quan đến quan vị, chức quyền. Kiêu Ấn là hỷ dụng, chủ thăng chức, công việc chuyển biến tốt, văn chương có hỷ, là lúc kị thì chủ tật bệnh, phá tài, công việc không thuận, tâm tình áp ức.
+ Thiên Ấn: Đại biểu ngũ thuật huyền học, đại biểu sư trưởng.
+ Tài Ấn là vật phải sinh tồn, không có Ấn sinh thân thể bạc nhược, tiết nhiều bệnh nhiều.

Gặp Ấn vận:
+ Lúc cát: dẫn hóa Quan Sát trong mệnh, sinh hoạt khá ổn định, không có áp lực, còn có rãnh rỗi thời gian bồi dưỡng, học tập, nhiều quý nhân trợ giúp, trưởng bối quan tâm, gần kề với tôn giáo.
+ Lúc hung: tương đối không có cơ hội vận động, khí sắc xấu, sức đề kháng yếu, suy xét chậm chạp, bị lừa tổn tài.
+ Năm, giờ và nguyệt lệnh có Thiên Ấn, không rõ cát hung, đại vận tuế quân gặp Thọ tinh, tai ương lập tức đến. (Chỗ này là nói trong trụ có Thiên Ấn nắm lệnh, nếu tuế vận gặp Thực thần, bị Thiên Ấn hồi khắc, chủ có tai kiếp. )
+ Tháng gặp Ấn thụ hỷ Quan tinh, vận nhập đất Quan tất thấy phúc, vận tử tuyệt lâm thân là bất lợi, sau hành Tài vận thì trăm việc không thành. (Chỗ này nói Ấn thụ là dụng thần, tối hỷ nguyên cục có Quan tinh sinh Ấn, chủ thanh quý, hành vận Quan là đại cát. Kị thấy Ấn thụ vận tử tuyệt, cũng kị thấy Tài vận phá Ấn. )

Chính Ấn

Chính Ấn đại biểu vật: Là Mẫu thân, thực vật được tiêu hóa, không khí đi vào, trưởng bối đề bạt bản thân, nhà cửa, thầy dạy trường ta học tập, xe cộ, tóc, da, tứ chi. Nữ mệnh đại biểu là tổ phụ, con rễ. Chủ văn thư, văn minh, văn hóa, tôn giáo, giáo dục, tự nhiên, chân lý, tâm não, xu hướng phát minh.

Tính cách: không thích hỗn tạp, thích cảm hóa, cầu được sự vật quan hệ cộng đồng, phàm nhìn sự việc sai không nhiều, thiếu khuyết tính tinh tế lực bị phân chia, không ham danh lợi, ổn định, thủ phận, thiếu khuyết lực tình cảm, thiếu khuyết lực cảm xúc, thiếu khuyết tính lưu loát, tự cho là đủ, khờ dại, đôn hậu cẩn trọng, không có ý kiến, có tu dưỡng, hiền lành, khoan dung, kiên nhẫn, tin tưởng lẽ trời, có tâm tôn giáo.
Trời sinh tính không ham danh lợi, thích yên tĩnh, không thích thay đổi nhiều, thường vui cười thỏa mãn, có hiện tượng vừa lòng, nhưng mặt trái là có một phương diện, tương đối thiếu khuyết tâm tiến thủ và tinh thần tích cực phấn đấu.

Chính Ấn là hỷ dụng:
+ Người thông minh từ thiện, cả đời ít họa hại, nếu như có làm Quan tất liêm minh thanh cao, danh chính ngôn thuận, xác thực nắm giữ thực quyền, mà người này rất nhiều tâm địa nhân từ, bẩm tính đạm bạc. Ấn tinh thích duy tâm, trọng cảm tình, dụng nhân tâm, là bởi vì học nghiệp cao, bản thân thông minh, đức tài đều đủ, là người thích đi học, uyên bác tri thức.
+ Người Chính Ấn rất giữ chữ tín, dễ dàng bị mắc lừa. Thích hợp luyện khí công, tọa thiền. Nguyện dâng hiến, mọi người đều cho là người tốt.
+ Dâng hiến, tâm thiện, bất kể công danh lợi lộc, chịu khó chịu khổ, mang nặng nhẫn nhục, hòa hoãn xung đột là tượng Chính Ấn.
+ Lúc Chính Ấn quá vượng, là dựa vào tính cường, vì vậy mà không có chủ kiến, hiển thị ra là có phúc khí bình an. Bởi vì có sinh ta, cho nên không có áp lực, vì vậy mà dễ sa vào lười nhác. Tượng này biểu hiện ở trong cục và có Tỉ Kiếp mà lúc có lực sinh thân, việc làm tâm không có tiến thủ.
+ Lúc Chính Ấn quá vượng, ỷ lại tính cường. Lúc Thực thần quá vượng tiết thân thái quá, trái lại mà khiến bản thân cảm thấy có nguy cơ, vì vậy mà phấn đẩu.

Chính Ấn là kị:
+ Nếu như Ấn tinh quá vượng, nguyên cục Thực thương hoặc Tài tinh quá nhược, thiếu khuyết Thực Thương tiết tú, là biểu thị trí tuệ năng lực chậm mở ra, lực lĩnh ngộ khá kém, biểu thị học nghiệp không quá lý tưởng, cá tính quá ở trung hậu thành thực. Nếu như nói hành vận chạy đến Thực thần Thương quan, thì có thể nắm khuyết điểm kể trên thì giảm nhược, học nghiệp trí tuệ năng lực tài năng vốn đủ chỗ thăng tiến.
+ Ấn cường Thực Thương nhược, đa số không tốt mưu mô giao dịch kinh doanh, cho nên tốt nhất là không nên quản lý tài sản hoặc đầu cơ kinh doanh mua bán, tốt nhất là nên theo nghiệp công chức.
+ Chính Ấn quá nhiều, biểu thị nhận được sự chiếu cố của mẫu thân quá nhiều, mà biến thành quá cưng chiều. Do vậy, người này luôn thiếu khuyết tính độc lập tự chủ.
+ Chính Ấn quá nhiều cũng biểu thị người mẹ quá khỏe là không tốt, hoặc là một loại nguyên nhân nào đó mà không thể không mượn tay người khác nuôi lớn. Nếu như Chính Ấn quá cường, thì có khả năng người và con cái là vô duyên.
+ Thân vượng ,Thiên Chính Ấn hỗn tạp, là người có chủ nghĩa cá nhân, mà lại còn giữ lấy cô độc, xử lý sự việc phải cẩn thận.
+ Ấn tinh nhược, nói rõ là không có chỗ dựa, không có đơn vị công tác, duyên bạc với mẫu thân.
+ Bát tự không có Ấn tinh, nói rõ là trong mất không có tồn tại sách vở, lúc đi học không thích ghi chép, khi đi thi thì nước chảy đến chân mới nhảy. Nếu có Thực Thương là tính coi trọng thực dụng, trừ phi đại vận đến Ấn vận, nếu không, đa số là không chịu đi học. Bát tự không có Ấn tinh, sinh bệnh không thích uống thuốc.
+ Lúc Ấn nhiều là bệnh, trưởng bối trợ lực rất ít, nam nữ ở nhà ngu si không đảm nhận được, cùng với trưởng bối là duyên bạc. Là vì cha mẹ quản thúc nhiều, nữ mệnh sau hôn nhân, quan hệ cùng với cha mẹ chồng không hòa hợp, khó ăn ở, nhiều thị phi, bề mặt không hòa hợp công việc, không chịu đi phụng dưỡng cha mẹ chồng.

Lưu niên:
+ Lưu niên là Ấn Kiêu, là thể hiện: đa số là có liên quan đến mẫu thân, lão sư, trưởng bối, học tập. Hóa Sát sinh thân thì là có liên quan đến quan vị, chức quyền. Kiêu Ấn là hỷ dụng, chủ thăng chức, công việc chuyển biến tốt, văn chương có hỷ, là lúc kị thì chủ tật bệnh, phá tài, công việc không thuận, tâm tình áp ức.
+ Chính Ấn: Đối với công vụ viên mà nói, Ấn thụ là quyền, nếu là Chính Quan nhược, dễ bị cô lập.
+ Tài Ấn là vật phải sinh tồn, không có Ấn sinh cơ thể bạc nhược, tiết nhiều là bệnh nhiều.

Gặp Ấn vận:
+ Lúc cát: dẫn hóa Quan Sát trong mệnh, sinh hoạt khá ổn định, không có áp lực, còn có rãnh rỗi thời gian bồi dưỡng, học tập, nhiều quý nhân trợ giúp, trưởng bối quan tâm, gần kề với tôn giáo.
+ Lúc hung: tương đối không có cơ hội vận động, khí sắc xấu, sức đề kháng yếu, suy xét chậm chạp, bị lừa tổn tài.
Mệnh lý học cho rằng, cuộc sống trên đời, mà bản thân mình cũng không qua ngũ hành sinh khắc, cho nên Thập thần trong bát tự, cũng bị giao cho nhất định có ý nghĩa hiện thực.

Viết một bình luận