Tường giải Thập Thần phần 9 – Hàm nghĩa Thập thần thể hiện ở trong tứ trụ

Chúng ta phân tích tỉ mĩ hàm nghĩa Tài Quan Ấn Thực Thương Tỉ Kiếp, mà tứ trụ là từ 10 can chi tổ hợp thành, cho nên, mỗi một người là đều có đủ nhiều loại tố chất, chúng ta chủ yếu theo Thập thần vượng suy, thấu can tàng chi, độ thân mật Thập thần và Nhật can để phân tích chỗ vốn có tố chất một người, tin tức cùng sự kiện phát sinh.

(Một) Ảnh hưởng Thập thần vượng suy đối với nhật chủ
Trong Tứ trụ mỗi một can chi, hàm nghĩa chỗ vốn có đều là chỗ có tố chất tiên thiên của một người, do ở Thập thần vượng suy cường nhược có khác nhau, loại tố chất này ( tin tức ) không nhất định biểu hiện ra ngoài: Thần nào đó ở trong bát tự bị chỗ khắc chế, hàm nghĩa ở trên thân thể con người thì không thể thể hiện ra, mà là trở thành một loại tin tức tiềm phục, nên sau khi tuế vận cùng khắc chế can chi thần này chỗ khắc chế có thể biến hóa, loại tin tức này liền thể hiện, chỗ này chính là từ tuế vận dẫn ra mà phát sinh cát hung phúc họa. Ví dụ như bát tự thân vượng Chính Quan vượng tướng, nhưng đồng thời Thương quan thấu can khắc chế trụ Chính Quan, thì người này dù có đủ tiềm chất làm quan, nhưng ở thời khắc then chốt vận khí luôn xấu, không có cách nào làm quan, thấy năm Thương vẫn có tụ tai họa. Khi tuế vận gặp Tài, Tài hóa Thương, Quan không bị chế, thì tượng Chính Quan hiển lộ, biểu hiện là người này trải qua nỗ lực, biến bất lợi thành có lợi ( Tài hóa Thương, là hình thành Thương sinh Tài, Tài sinh Quan, Thương gốc vốn khắc Quan, hiện tại chẳng những không khắc Quan, trái lại tuần hoàn mà sinh Quan ), học xong tính cách (hàm nghĩa Chính Quan), không hề xử lý theo cảm tính (hàm nghĩa Thương quan), cuối cùng là thăng quan, thăng quan đồng thời còn có thể phát tài. Tính cách tình cảm biến hóa là từ ảo tưởng lãng mạn chuyển thành càng thêm hiện thực ( Thương quan đại biểu tinh thần và lãng mạn, Tài đại biểu chủ nghĩa hiện thực, Tài hóa Thương, Thương sinh Tài, cho nên tính cách Thương quan giảm, tính cách Tài tăng thêm, hóa cũng là một loại khắc ).
Một thần nào đó ở trong bát tự quá vượng, quá mà không bị khắc chế, hàm nghĩa ở đây là thên thân thể người này sẽ thể hiện càng mạnh mẽ, cả đời phát triển bị ảnh hưởng thần này là cũng quá lớn, nên sau khi ở trong tuế vận thần này bị khắc phá chế phục, thường là hàm ý cả đời có sự thay đổi rất lớn, không luận theo tinh thần, vật chất ở trong sinh hoạt sẽ hội tụ phát sinh biến động, biến hóa tốt hay xấu là do nhật chủ chỗ hỷ kị quyết định.

(Hai) Ảnh hưởng Thập thần thấu can thay đổi sinh mệnh tàng chi đối với đặc tính nhật chủ
Thiên can chủ Động, địa chi chủ Tĩnh, thiên can rất dễ dàng cùng với nhật chủ phát sinh tác dụng, vì vậy mà thiên can chủ sự rất dễ dàng ở trên thân thể mệnh chủ thể hiện ra ngoài, địa chi thì tương đối khó khăn hơn nhiều.Ví dụ như một người có can năm thấu Quan, ở dưới tình huống vkhông bị khắc phá, thì Quan này rất dễ dàng cùng với nhật chủ phát sinh tác dụng, nếu thân vượng thì biểu hiện là người này thường có thấy đến cùng tiếp cận với Quan quý, hợp lại chỗ này mà nhận được khen thưởng; nhưng nếu Quan ở chi năm, thì người này tuy cũng có thể thấy đến quan quý, nhưng lại không dễ kiến lập liên hệ thân mật, nếu bản thân lực hóa khí thì yêu cầu đuổi theo mới được. Ở giữa địa chi thông thường không luận sinh khắc, ví dụ như hai gia đình có hai bà chủ, dù có tính cách không hợp, vì từng người đứng ở trong nhà mình, không có qua lại tiếp xúc nhau, sẽ không dẫn đến mâu thuẫn. Nhưng ở dưới tình huống địa chi tọa trên hai can tương hợp, cả hai địa chi này tương đối dễ phát sinh tác dụng mà luận sinh khắc, ví dụ như năm Canh Tý ngày Ất Tị, Ất Canh tương hợp, khiến cho giữa Tý và Tị quan hệ mật thiết, cả hai bà chủ gia đình cũng có cơ hội tiếp xúc nhau. Ở giữa địa chi thông thường chỉ luận hình xung hợp hại.
Thấu thì hiển lộ, tàng thì ẩn giấu, chỗ thập thần thấu can là đại biểu thông tin, tức là thấu lộ ra ở ngoài mặt, mọi người đều biết sự việc, ví dụ như một người có thiên can thấu ra Tài không bị khắc phá, thì việc phát tài của nó được rất nhiều người biết, giống như anh ta có thiên can thấu Tài, địa chi tàng Tài, thì người khác biết được anh ta phát ra bao nhiêu (một bộ phận tàng chi Tài người khác không có thể biết được); nếu như người này Tài tàng chi không thấu can, thì rất ít lộ ra giàu có, người khác không dễ biết được.
Theo tâm tính mà nói, nếu một người có địa chi tàng can cùng thiên can thấu xuất hàm ý khác nhau một trời một vực, thì tính cách người này vốn có tính hai mặt rất rõ, biểu diện ở trên chỗ việc làm và chỗ việc làm bên trong ngấm ngầm cách nhau rất xa.
Ví dụ như một người có thiên can thấu Ấn không bị khắc nhưng hơi nhược, địa chi tàng Sát Kiêu vượng tướng, thì người này biểu hiện ra nhân từ, còn bên trong thực ra thì rất hung ác.
Địa chi tàng can nếu khí thế cường vượng, thì hàm nghĩa cũng có thể hiển lộ ra bên ngoài, một loại Thần Long làm cho người ta chỉ thấy đầu mà không thấy đuôi có cảm giác bí hiểm khó lường.
Bất luận thấu can hay tàng chi, đều có tố chất tiên thiên ( bẩm sinh) mệnh chủ được đại biểu, tùy theo tuế vận biến hóa, một bộ phận thông tin bị khắc chế mất, một bộ phận thông tin lại mạnh thêm, một bộ phận thông tin dẫn phát xuất hiện ra, chỗ này chính là nguyên lý mệnh lý cát hung phúc họa.

(Ba) Mức độ thân mật giữa Thập thần và Nhật chủ
Mỗi một loại thập thần do ở vượng suy xa gần, ảnh hưởng đối với Nhật can là không giống nhau, chỗ mệnh chủ vốn có tính chất loại Thập thần này thì cũng hoặc nhiều hoặc ít. Thập thần đối với nhật chủ còn ảnh hưởng và có liên quan mức độ thân mật giữa Thập thần và Nhật chủ. Thông thường mà nói, can chi cùng với nhật can tương hợp hút nhau cùng với chi ngày có quan hệ rất thân mật, việc tương hình tương xung là rất xa. Thiên can thuộc động, cơ hội tác dụng giao hỗ lớn; địa chi thuộc tĩnh, cũng không tương quan với thiên can, cơ hội tác dụng không tồn tại, cho nên mà can năm, tháng, ngày, giờ cùng quan hệ với nhật can là rất thân mật, tất nhiên, can chi cùng gần với nhật can thì thân mật hơn so với can chi ở xa.

Dưới đây là tính quy luật gần nhất:
1, Bản thân nhật can.
2, Chỗ chi ngày hoặc can ngày hợp với thiên can.
3, Chi ngày hợp chi, can ngày hợp can với địa chi, can ngày hợp can với hiên can.
4, Thiên can đến khá gần can ngày.
5, Cự ly can ngày khá xa thiên can.
6, Cùng với chi ngày không có địa chi xích mích nhau ( xung, hình).
7, Cùng chi ngày địa chi khá gần.
8, Địa chi cùng với chi ngày tương xích hoặc khá xa.
Trong đó điểm 1, “Bản thân Nhật can” tức là tính chất bản thân nhật can, chủ yếu thuộc về phân tích tâm tính một người, tâm tính tức là hàm nghĩa tính tinh thần. Ví dụ như nhật can là Giáp, thì người này vốn có tâm tính Thiên Tài, nhật can là Bính, thì người này vốn có tâm tính Thiên Quan, chỗ này là tính chất ngũ hành thập can và quan hệ với tính chất thập thần, ở dưới đây chúng ta có vài chương giải thích rõ về một Trung tướng.
Thập thần cùng với mức độ thân mật Nhật can, hàm nghĩa thể hiện ở trên thân thể mệnh chủ tương đối rõ ràng, mức độ thân mật Thập Thần ít, hàm nghĩa đặc tính cũng không dễ biến mất. Ví dụ như nhật chủ là Quý, can tháng là Mậu, can năm là Giáp, Mậu Quý tương hợp, Mậu là Quan, Mậu tuy bị chỗ Giáp chế, nhưng do ở Mậu và nhật chủ tương hợp, cho nên nhật chủ vẫn có thể cùng Quan quý thân cận mà nhận được sự hợp tác, tất nhiên, người này làm quan sẽ không lớn.

(Bốn) Hàm nghĩa quan hệ Thập thần cùng với thân vượng thân nhược
Hàm nghĩa Thập thần là nhất định, nhưng hàm nghĩa biến hóa theo thân vượng thân nhược và ở trên thân mệnh chủ có hình thức biểu hiện thì khác nhau. Trên thực tế, hàm nghĩa thập thần ở trên bản chất nó là hàm nghĩa tính tinh thần, hàm nghĩa tính phi tinh thần đều là do hàm nghĩa tính tinh thần suy diễn ra. Ví dụ như Ấn là văn bằng, là chức danh, là hàm nghĩa tính tinh thần là do Ấn sinh thân, sinh thân, là che chở, là chỗ dựa vậy, văn bằng, chức danh tức là chỗ dựa, chỗ che chỡ cho bản nhân. Lại như Thương quan là phát minh, là nghệ thuật, là do ở Thương quan là “Ta sinh ra”, “Ta sinh ta” tức là ta sáng tạo ra vật, mà phát minh, nghệ thuật đều là chỗ ta sáng tạo ra, cho nên Thương quan là phát minh, là nghệ thuật. Bởi vậy, chúng ta lúc phân tích quan hệ hàm nghĩa Thập thần với nhật chủ thân vượng thân nhược, cũng bắt tay vào làm ứng theo hàm nghĩa tính tinh thần Thập thần.
1, Tài là ta khắc, cho nên lúc thân vượng, ta có thể thắng Tài, hàm nghĩa Tài biểu hiện là phát tài, được vợ, sự việc và vật nhận được là chỗ ta có thể hưởng dụng. Lúc thân nhược, ta không thể thắng tài, tức là ta muốn mất đi khống chế, mà nhận được sự việc và vật, nhưng do chỗ ở lực không đủ, không những không thể nhận được, trái lại hủy hoại bản thân, cho nên không phải biểu hiện là tượng phát tài, trái lại là tượng không phát tài, là chỗ liên lụy với sự việc, lao khổ mà không công.
2, Quan Sát là chỗ khắc ta, đối với ta là một loại áp lực, một loại rèn luyện, lúc thân vượng, có thể chịu đựng được các loại áp lực, cũng ở trong áp lực, trong rèn luyện mà trưởng thành lên làm quan. Lúc thân nhược, biểu hiện ra là không phải làm quan, mà là bản thân không cách nào qua chịu đựng các loại rèn luyện và áp lực, trở nên nhát gan nhu nhược; hoặc là bị người khác chèn ép, hãm hại, bản thân không có đủ lực lượng phản kháng mà dẫn đến tai họa.
3, Ấn là chỗ sinh ta, lúc thân vượng, thì tượng bản thân đã đủ cường tráng, lại ăn cật người để bồi bổ lớn, như vậy phải được bổ máu huyết, cũng chính là nói, nhân sâm cũng không có thể phát huy tác dụng, cho nên bản nhân không những không có chỗ dựa, chỗ che chỡ, trái lại mà bởi vì người khác giúp cũng thêm phiền mà dẫn đến họa tai. Thân nhược, chính là khô hạn mà gặp nước sương, được quý nhân bang trợ, nâng đỡ, tấn chức thăng cấp. ( Chỗ Ấn là đại biểu địa vị cùng với Quan là khác nhau, chỗ Quan đại biểu địa vị là một loại quyền lực như từ trưởng khoa được thăng làm trưởng ban. Ấn là đại biểu một loại địa vị, ví dụ như từ công nhân bậc ba thăng lên công nhân bậc một, từ công trình sư thăng làm công trình sư cao cấp, sau khi thăng cấp cũng không nhất định là tăng thêm quyền lực. )
4, Thực Thương là chỗ ta sinh ra, thân vượng, là một loại chính thường phát huy, phát tiết, đối với bản thân là có chỗ tốt, như một dạng thân thể quá mập béo muốn giảm béo; đại biểu phát huy tài hoa, hộ cá thể thỏa mãn, sáng tạo và khai thác; thân nhược, chính là thể lực vẫn không nên cần thấu chi, có tâm khai thác, sức không có phấn đấu, tâm so với trời cao, mệnh so với tờ giấy mỏng.
5, Tỉ Kiếp là đồng loại với ta, lúc thân vượng, biểu hiện là phá tài, tranh đoạt đánh nhau, bởi vì chỉ có một chén cơm, hai người tranh nhau, đương nhiên phải đánh nhau. Lúc thân nhược, có Tỉ Kiếp trợ thân, biểu hiện là mọi chỗ được mọi người giúp đỡ, lực lượng đoàn kết lớn. Thân nhược không có Tỉ Kiếp thì rõ ràng giống như bản thân không có bằng hữu giúp đỡ, năng lực bả thân cũng không ra gì ( ở dưới tình huống không có Ấn ), ở trong cuộc sống xã hội lúc sinh hoạt thập phần gian nan.
Từ bên trên có thể biết, hàm nghĩa Thập thần ở lúc thân vượng thân nhược hình thức biểu hiện là khác nhau, mọi người vận dụng chỗ lúc đưa ra hàm nghĩa Thập thần để phân tích tứ trụ, nhất định phải kết hợp thân vượng thân nhược để phân tích.

 

Viết một bình luận